San Francisco là một vùng thanh lịch có chiếc cầu treo Golden
Gate soi mình trên biển Thái Bình Dương bao la xanh ngát và những
ngôi nhà đắt tiền nằm dọc theo những con phố dốc cao.
Ðược thiên nhiên ưu đãi vì nằm trên bán đảo, San Francisco
có ba bề được biển bao quanh, khí hậu mát mẻ quanh năm
và nền văn hóa pha trộn nhiều sắc dân rất là đặc biệt.
Du khách đến nước Mỹ phải một lần đặt chân đến San
Francisco để khỏi nuối tiếc vì không đi thăm một thành
phố thanh lịch, cảnh trí tươi đẹp sẽ mang nhiều ấn tượng
khó quên.
XE CÁP ÐIỆN
San Francisco là một thành phố
núi đồi, đường xá dốc cao, dốc thấp trông rất ngoạn
mục nhưng lái xe cũng khá nguy hiểm. Lưu thông công cộng thành
phố có một loại xe đặc biệt là xe điện dây cáp (Cable
Car) có móc sắt khiến xe an toàn không bị tuột dốc. Những
toa xe điện này được sơn màu xanh đỏ, mạ kền bóng láng,
tài xế mặc đồng phục đội mũ trông lịch sự và đẹp
mắt, là một hình ảnh đặc biệt gây ấn tượng đẹp cho
du khách sau một lần viếng qua thành phố. Xe dừng lại hầu
như mỗi góc đường, muốn đi du khách chỉ bước lên và
trả tiền cho tài xế, giá vé chỉ vài đồng nhưng tài xế
sẽ không thối tiền lại vì tiền sẽ bỏ thẳng vào hộp.
Hộp tiền này giống như những hộp tiền của các bà vợ
chỉ “one way” có vào mà không ra! Muốn đổi tiền lẻ nhiều
khi tôi đưa tờ giấy bạn lên cao phe phẩy, thế nào cũng
có một vài người tốt bụng đổi cho
Xe cáp được sáng chế bởi
Andrew Hallidie sau khi ông ta chứng kiến cảnh xe ngựa lật và
tuột dốc kéo theo những con ngựa đáng thương phía sau. Xe
đuợc đưa ra sử dụng ngày 2-8-1873 trên đường Clay Sreet
lên Nob Hill rất thành công nên từ đó nhiều công ty bỏ tiền
vào đầu tư. Trong thập niên 1890 có tất cả 8 hãng vận chuyển
điều hành 600 xe điện chạy trên 21 tuyến đường dài tổng
cộng 52.8 miles và là phuơng tiện chuyên chở hành khách chính
yếu cho đến trận động đất năm 1906. Trận động đất
và hỏa hoạn này đã thiêu rụi toàn bộ các toa xe và làm
hư các đường rầy. Sau đó thành phố đã tái thiết lại
nhưng chỉ những lộ trình chính yếu cho khách du lịch còn
số đông hành khách là công nhân viên chức đi làm ngày nay
đã có xe riêng hay đi xe buýt. Toàn bộ hệ thống xe điện
cáp này đã ngưng hoạt động trong hai năm 1982 đến 1984 để
tu bổ lại cho an toàn và thẩm mỹ hơn..
Xe cáp điện
ÐIẠ ÐÀNG DÂN “GAY”
Nhiều đồi núi và thung lũng
nên rải rác trong thành phố người ta bắt gặp nhiều địa
danh như Nob Hill là khu biệt thự sang trọng bởi tiếng Hindu
“nabob” có nghĩa là người quan trọng và sang giàu. Telegraph
Hill là tên ngọn đồi có đài phát tuyến Morse được xây
dựng năm 1853 để đánh điện tín, một phương tiện thông
tin được xem là vượt bực vào thời ấy. Russian Hill là nghĩa
trang của nhóm người Nga đầu tiên sinh sống trong vùng, đa
số là thủy thủ đi săn hải cẩu.
Khu Castro District lấy tên con
đường chính chạy qua là nơi tập trung đông đảo giới đồng
tính “Gay”. San Francisco là vùng đất mới quy tụ nhiều
sắc dân có phong tục khác nhau nên dễ dàng chấp nhận những
người có lối sống khác biệt nếu không ảnh hưởng đến
trật tự và quyền lợi của họ. Thêm vào đó phong cảnh
hữu tình, khí hậu mát mẻ khiến tính tình người dân rất
vui tươi cởi mở, có tinh thần phóng khoáng “liberal” nên
họ dễ dàng chấp nhận giới đồng tính trong khi ở những
nơi khác giới này bị nhìn như thành phần tội lỗi. Ðến
thế chiến thứ hai, những binh lính đồng tính bị buộc phải
xuất ngũ và họ được chở đến San Francisco để xuống
tàu, tống xuất về nguyên quán. Nhưng đến đây gặp những
người cùng chung sở thích, họ nhận ra “thiên đường là
đây”, thay vì xuống tàu hồi hương họ trở lên bờ chọn
nơi này làm quê hương, thành hình một cộng đồng “gay”.
Ðó là lý do khiến San Francisco nổi tiếng là giang sơn của
giới đồng tính và mới đây tòa án thành phố đã làm hôn
thú cho hàng ngàn cặp “vợ chồng” cùng giới tính khiến
cho dư luận xôn xao, tiếng đời xua động, chống đối cũng
nhiều mà binh vực cũng có. Hàng năm các hội đồng tính ở
đây có tổ chức một cuộc diễn hành “Gay Pride Parade”
trên đường Market vào cuối tháng 6 cũng rất đông người
xem.
PHỐ TÀU SAN FRANCISCO
Gần cuối con đường Market
xe rẽ trái vào đường Kearny đi 5 blocks đường là đến China
Town, tại đây du khách sẽ bắt găp một nhà thờ công giáo
có tên là Old St. Mary Church cổ kính nằm ở góc Kearny
và California. Nhà thờ này do người Hoa xây năm 1854. Ði thêm
2 vuông đường nữa sẽ thấy nhà đậu xe kế công viên Portsmouth
Square nằm dưới cao ốc kim tự tháp Transamerica Pyramid được
xây năm 1972. Du khách nên đậu xe ở đây vì vào bên trong
phố Tàu đường chật hẹp lại đông đúc rất khó đậu
xe. Phố Tàu San Francisco được xem là phố Tàu lớn nhất ngoài
Á Châu. Làn sóng người Tàu đến đây đông nhất vào thời
kỳ xây dựng đường xe lửa nối liền hai bờ biển nước
Mỹ. Họ từ giả quê hương nghèo khổ để tìm một chân
trời mới, hứa hẹn một tương lai sáng sủa hơn, trong khi
nhà thầu Mỹ thu dụng nhân công Trung Hoa vì trả lương rẻ.
Năm 1865 có chừng 6 ngàn nhân công người Hoa làm đường xe
lửa, đến năm 1869 tăng lên 15 ngàn người. Những thập niên
đầu tiên phố Tàu là những căn nhà ọp ẹp cho thuê, chợ
lề đường bán rau cải, thịt cá, vài quán ăn, quày rượu
và tiệm hút á phiện dưới tầng hầm. Ngày nay phố Tàu San
Francisco là địa điểm du lịch đứng hạng nhì trong vùng
chỉ sau cầu Golden Gate mà thôi. Du khách đến San Francisco là
phải đi thăm phố Tàu để thấy khung cảnh buôn bán nhộn
nhịp của Hồng Kông ngay trên đất Mỹ. Ðường xá phố Tàu
rất chật hẹp lại dốc cao, nhiều nơi cẩn đá xanh xưa cổ
có điều lợi là giữ cho bánh xe ít bị trượt dốc. Khách
sạn tại khu phố Tàu và downtown cũng như vùng bờ biển rất
đắt đỏ, giá thường trên 150$ một đêm và phải giữ chỗ
trước. Do đó du khách nên mướn khách sạn ở những thành
phố bên kia Vịnh như Oakland, Fremont vừa giá rẻ lại tiện
nghi hơn.
Với du khách từ xa đến, phố
Tàu có khung cảnh khác lạ, họ thích đi thăm thú mua sắm
ở các cửa hàng đồ cổ, những món đông phương trang trí
trong nhà, cẫm thạch, các loại nữ trang đá quý, dược thảo,
sơn hào hải vị như mật gấu, sừng nai, vi cá, bào ngư, hải
yến…Một số người thích thưởng thức những món ăn Trung
Hoa có hương vị đặc biệt như điễm sắm, mì, hoành thánh,
những món xào, chiên, chưng, hầm…Giá cả những món ăn bằng
tiếng Anh nhiều tiệm niêm yết ngoài cửa và nhiều khi rẻ
không ngờ.
Hàng năm sau Tết Nguyên Ðán
khoãng 2 tuần, Phòng Thương Mại khu phố Tàu có tổ chức
xe hoa diễn hành “Chinese New Year Parade” màu sắc vui tươi,
đông đảo người xem và có chiếu trên đài truyền hình International
Channel số 18 vùng Nam California và mỗi năm đều có cuộc thi
sắc đẹp bầu hoa hậu San Francisco China Town.
Các khu phố Tàu ở những thành
phố khác trên nước Mỹ, người Việt gốc Hoa đều xâm nhập
và có nơi còn tràn ngập lấn áp người Tàu cố cựu như
phố Tàu Los Angeles, New York, Toronto. Vào những khu phố này
ta có thể nói tiếng Việt thoải mái, mua một dĩa nhạc VN
dễ dàng. Trái lại phố Tàu San Francisco vẫn là một thành
trì kiên cố, bang hội người Hoa ở đây rất giàu có và
mạnh về thế lực chính trị vì họ đã ở đây hơn 150 năm,
vẫn muốn giữ China Town là của người Hoa gốc “ di
dân làm đường xe lửa”, thêm vào đó giá thuê phố lại
đắt nên dân VN ta cũng khó chen vào nhưng người ta vẫn tìm
thấy ít nhất 2 tiệm Phở ở giữa phố Tàu. Khó chen chân
vào phố Tàu, dân ta tìm nơi khác cũng gần đó cách 1 mile
về hướng Tây Nam nơi góc đường Ellis và Larkin gần toà
thị chính để xây dựng khu VN và Tết năm qua 2004 được
thành phố San Francisco công nhận là khu “Little Vietnam” đúng
theo truyền thống “Ta đi theo quê hương”.
Phố Tàu San Francisco
SAN FRANCISCO – OAKLAND BAY
BRIDGES
Chữ Bridges viết số nhiều
vì không phải chỉ một mà tới hai cây cầu mới đủ dài
đề bắt ngang Vịnh Cựu Kim Sơn. Chiếc cầu thứ nhất bắt
từ bờ San Francisco tới đảo Yerba Buena nằm cạnh Treasure
Island um tùm cây cối, ngày xưa là nơi bọn cướp biển cất
giấu những báu vật mà chúng đánh cướp được. Ðây là
chiếc cầu treo có hai tầng, mỗi tầng là một chiều lưu
thông với 4 làn xe. Tầng phía dưới là chiều từ San Francisco
đi sang Oakland và tầng trên ngược lại từ Oakland đi vào
San Francisco. Khi xe chạy ở tầng trên, khách ngồi trên xe sẽ
có dịp mục kích một khung cảnh thành phố nhìn từ trên
cao với nhiều cao ốc nằm cạnh bờ biển rất huy hoàng, tráng
lệ nhất là vào buổi hoàng hôn khi thành phố vừa lên đèn.
Xe ngang qua đảo Yerba Buena, đoạn này là một đường hầm
đào trong núi với đường kính 58 feet. Rồi xe sẽ sang chiếc
cầu thứ nhì là một cầu thép có một tầng rộng như một
xa lộ. Cầu được nâng đỡ bằng những cột xi măng cốt
sắt xây xuống đáy biển.
Chiều dài hai cầu và đường
hầm ở giữa là 8.5 miles (13.7 cây số) xe chạy mất khoãng
10 phút, vào thời xây cầu năm 1933 là cầu treo dài nhất thế
giới. Cầu mở cho xe cộ lưu thông vào tháng 11 năm 1936 với
kinh phí xây dựng là 79.5 triệu mỹ kim (gấp đôi cầu Golden
Gate là 35 triệu được hoàn thành vào mùa hè năm sau
đó tức năm 1934). Kỹ sư trưởng toàn bộ công trình là Charles
H. Purcell (1885-1951). Cây cầu Bay Bridges nối liền hai bờ của
Vịnh San Francisco đã mở một kỷ nguyên mới cho vùng Vịnh,
giao thông vận chuyển được dễ dàng, giúp kinh tế trong vùng
phát triển. Cầu có thâu lệ phí 3$ nếu từ Oakland đi vào
San Francisco và trạm thu nằm bên đầu cầu phía Oakland.
Trận động đất năm 1989 làm
hư hại môt phần cầu Bay Bridges và người ta đang nghiên cứu
kế hoạch xây lại cầu thứ nhì phía bên Oakland. Dự án có
thể là cầu treo với cáp thẳng như cầu Mỹ Thuận ở VN
hay cáp treo như cầu thứ nhất và cầu Golden Gate. Bản vẽ
vẫn còn nằm trên bàn giấy chưa biết bao giờ mới xây lại.
Cầu Bay Bridge
LOMBART, CON ÐƯỜNG KHÚC KHUỶU
Vũ điệu Lambada các vũ công
y trang Nam Mỹ bông hoa rực rỡ thân mình uốn lượn, nối
nhau nhịp bước cũng uốn lượn ngoằn nghèo thì con đường
Lombart cũng quanh co uốn lượn không khác vũ điệu Lambada.
Từ Coit Tower xuống đồi đi lên hướng Bắc sẽ gặp Lombart
và quẹo trái, đi về hướng Tây 7 blocks đường sẽ tới
con đuờng khúc khuỷu Lombart. Con đường được xây năm 1920
có dốc nghiêng đến 40 độ, dài một block đường nhưng phải
lên một con dốc cao nên đuờng phải đi theo dạng chữ chi
trong tiếng Hán và chữ Z trong tiếng Anh. Hai bên đường trồng
hoa nhiều màu rất xinh đẹp và hai bên là lối đi cho người
đi bộ được tráng xi măng nhưng dốc rất cao và nhiều nơi
có tay vịn. Khi lên con dốc này, đi một đoạn là dừng chân
nghỉ mệt, nhìn ngắm những bông hoa và nhà cửa dọc theo
hai bên đường. Có những nhà xe lối ra xe đâm ra ngay con đường
dốc nhưng giá nhà vẫn đắt hơn mấy triệu bạc và người
ta rất thích thú được ở khu này. Phía trên dốc là ngả
tư Lombart và Hyde Street, đứng nơi đây nhìn xuống con đường
khúc khuỷu hoa trồng hai bên và phiá xa cuối đường Lombart
là bờ biển.
FISHERMAN’S WHARF
Theo con đường lớn Hyde Street
đi về hướng biển tức hướng Bắc 2 blocks đường sẽ ngang
qua công viên Russian Hill Park bên tay trái và đi thêm 3 blocks
nữa sẽ ra tới bờ biển. Khu bến tàu này có tên là Fishman’s
Wharf có nghĩa là cầu tàu của dân đánh cá. Quang cảnh ở
đây rất nhộn nhịp nhất là vào buổi sáng. Tản bộ dọc
theo đường Jefferson là con đường dọc theo bến tàu giữa
đường Hyde và Jones, du khách sẽ mục kích những hoạt đông
của dân chài người Mỹ. Họ đẩy cá lên bờ, cân bán cho
các lái buôn hay các nhà hàng và quanh đó là những hàng quán
nho nhỏ như chợ trời bày bán đồ kỷ niệm, tranh ảnh và
nhiều nhất là các quán bán đồ ăn, không khí xô bồ náo
nhiệt vì tiếng rao hàng, tiếng nhạc từ các cửa hàng dĩa
nhạc. Fisherman’s Wharf nổi tiếng những nhà hàng hải sản
của người Ý có bàn ngồi ăn nhìn ra biển, những quán bán
hải sản nấu chín như cua biển hấp, cá chiên, seafood cocktails
ăn lạnh và đặc biệt nổi tiếng với quán của gia đình
Boudin mở từ năm 1849 với món bánh mì tròn bột chua (sourdough),
lấy ruột ra rồi đổ vào đó súp nghêu (clam chowder) còn bốc
khói. Ngày nay các hàng quán ở đây còn chế thêm nhiều món
tương tự cũng bánh mì nhưng bột không chua và seafood salad
đổ vào ổ bánh mì. Quang cảnh nơi đây ngườI đi tấp nập,
ăn uống ngoài đường thoải mái tự nhiên và hàng quán mở
cửa đến khuya. Vì là địa điểm du lịch nên giá cả các
món ăn khá đắt tuy nhiên bên kia đường cũng có một tiệm
Mac Donald vẫn giữ giá như Mac Donald ở những nơi khác.
Giải trí có tính cách gia đình
ở đây có Wax Museum, Ripley’s Believe It Or Not và Medieval Dungeon
và chiếc tàu ngầm từ thời thế chiến thứ hai, chiến hạm
USS Pampanito đậu ở cầu tàu 45 (Pier 45).
Hải cẩu bên bờ cảng
PIER 39
Từ Fisherman’s Wharf đi
về hướnđậu xe nhiều tầng rất lớn. Cầu tàu 39 là một khu
hàng quán xây bằng gỗ theo kiểu Anh có hai tầng, một nửg Ðông một đoạn ngắn sẽ gặp cầu tàu 39 rất
đông du khách tập trung ở đây vì bên kia đường có một
nhà a
nằm trên bờ biển, nửa kia xây trên mặt nước. Ðặc biệt
ở đây người ta neo những phao nổi bằng gỗ ghép lại trôi
bập bềnh trên sóng nước để cho loài hải cẩu nghỉ chân,
nằm phơi mình dưới ánh nắng mặt trời. Mỗi ngày hàng trăm
hải cẩu tập trung nơi đây kêu lên những tiếng “en ét”
hòa lẫn tiếng sóng biển rì rào, tiếng hải âu “chim chíp”
giành mồi.
Ở đây cũng buôn bán tấp
nập, hàng quán đồ ăn, gift shop, áo thun, tranh ảnh tạp nhạp
và phẩm chất không bảo đảm. Là chốn đông vui nên phải
cẩn thận coi chừng bị móc túi. Có rất nhiều “nghệ sĩ
đường phố” biểu diễn tài nghệ để kiếm tiền ở đây.
Có ngày có ban nhạc chơi “steel drums” của vùng biển Caribbean
của những đảo như Puerto Rico, Jamaica tưng bừng, rộn rã.
Có nghệ sĩ cặp mắt lim dim, oằn vai thổi kèn saxophone day
dứt. Có những anh chàng Mỹ đen xịt sơn bạc lên
quần áo, mặt mày, đứng trên thùng cao giả làm người máy,
lúc thì cử động giựt giựt như robot, lúc thì bước
đi uyển chuyển, thoăn thoắt nhẹ nhàng như Micheal Jackson.
Khi thoáng thấy những cô gái Nhật Bản ngây thơ đi tới,
anh ta ngồi bất động, cặp mắt đứng tròng. Các cô gái
Nhật phân vân không biết người thật hay tượng chì, đưa
tay xăm soi, rờ mó. Lúc bất ngờ, anh ta cử động làm các
cô giật mình rú lên và sau đó vui cười ngặt nghẽo. Các
cô chụp hình lưu niệm cho chuyến Mỹ du và không quên bỏ
tiền vào thùng giấy cho “người máy” mua hamburger.
Robot bên bến tàu
ÐẢO NGỤC TÙ ALCATRAZ
Từ cầu tàu 41 có nhiều tuyến
hải trình ngoạn cảnh bằng tàu chạy đến cầu Golden Gate
rồi trở lại. Trên du thuyền hành khách có dịp thưỏng ngoạn
phong cảnh của thành phố nhìn từ ngoài khơi rất đẹp. Những
nhà cao tầng nhiều màu, nhiều kiểu thẳng tấp vượt lên
trời xanh, tháp Coit cô độc trên đỉnh đồi um tùm cây cối
rất tương phản với những ngôi nhà trắng lúp xúp chen nhau
phía dưới và hải đảo Alcatraz có tháp hải đăng và những
dãy nhà lầu cũ kỹ.
Khi du thuyền đến gần cầu
Golden Gate có 2 trụ cột màu đỏ treo những dây để đỡ
chiếc cầu, cảnh lại càng trở nên hùng tráng huy hoàng hơn
nữa.
Hải trình du ngoạn hòn đảo
Alcatraz được nhiều du khách ưa chuộng hơn hết. Alcatraz tiếng
Tây Ban Nha có nghĩa là chim chàng bè hay còn được gọi là
bồ nông (Pelican), một loại chim biển có chân vịt và mõ
thật dài, dưới cổ có túi lủng lẳng để chứa thức ăn.
Ngày xưa trên đảo toàn là giống chim này. Thời kỳ chiến
tranh Mỹ-Tây Ban Nha trong thập niên 1850, đảo Alcatraz là một
đồn quân vì có địa hình dễ phòng thủ và cũng là một
trại giam nhốt tù binh. Năm 1934 đảo là trại giam kiên cố,
an ninh nghiêm nhặt để giam những tội phạm băng đảng Mafia
và những tử tội khét tiếng dữ dằn. Những thân chủ nổi
tiếng được đưa ra “nghỉ mát” dài hạn tại đảo gồm
có “Machine Gun” Kelly can tôi cướp ngân hàng, Al Capone trùm
băng đảng và Robert “Birdman” Stroud sát nhân. Ðảo cách
bờ chỉ có một mile nhưng không ai vượt thoát được vì
nước biển quá lạnh. Nhà tù trên đảo là nhà tù duy nhất
của liên bang cho tù nhân tắm toàn nước nóng, không có nước
lạnh, một tiện nghi sang trọng khiến tù nhân có thói quen
không chịu được nước lạnh, thoát được xuống nước
cũng vội vàng lội trở lại! Nổi khổ tâm dày vò tù nhân
bị giam ở đây là thèm khát đời sống tự do bên ngoài,
hàng đêm nhìn đèn màu rực rỡ trong bờ và đôi lúc thuận
gió còn nghe được tiếng nhạc, tiếng cười la từ các dạ
vũ, tiệc tùng.
Nhà tù đuợc đóng cửa năm
1963 và trở thành điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách
đến từ mọi nơi. Tiểu đảo rộng 12 mẫu này là một phần
của Golden Gate National Recreation Area và chỉ có tuyến tàu Blue
& Gold Fleet phục vụ du khách mỗi ngày từ cầu tàu 41 tạI
Fisherman’s Wharf.
Từ năm 1969 đến 1971 một
nhóm người Mỹ gốc da đỏ đã lên chiếm đảo để biểu
tình chống lại cơ quan Bureau Of Indian Affairs. Hầu hết trang
bị cho phòng ốc nhà cửa trên đảo bị phá hư nhưng ngọn
hải đăng và hai ngôi nhà lớn thì không hư hại.
Ðảo ngục Alcatraz là địa
điểm khi đến San Francisco du khách nên đi xem cho biết nhà
tù Mỹ ngày trước như thế nào và đời sống tù nhân ra
sao? Du khách sẽ thấy những căn phòng hẹp dày đặc song sắt
với chiếc giường sắt mà khi tù nhân vượt ngục, để đánh
lừa giám thị đề lao, y để lại một hình nộm cũng an phận
nằm ngủ trên giường.
Alcatraz , đảo ngục tù
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét